Loading ...

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

30 Tháng Mười Hai 2020 - Nho Phước - Phó trưởng Phòng Thuế XNK
Lượt xem: 180     Phản hồi: 0

Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2019 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 (dưới đây gọi là Luật Quản lý thuế). Việc ban hành Luật Quản lý thuế đã đảm bảo tính kế thừa những quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành (Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH12, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13) còn giá trị thực hiện, đồng thời bổ sung các quy định mới nhằm đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới, cải cách thủ tục hành chính, phù hợp với các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập quốc tế.

Nhằm quy định chi tiết một số điều, khoản, điểm của Luật Quản lý thuế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020, có hiệu lực từ ngày 05/12/2020. Nghị định số 126/2020/NĐ-CP đã bám sát các nội dung quy định của Luật Quản lý thuế, đảm bảo tính thống nhất với pháp luật về thuế, hải quan, dân sự, giao dịch điện tử, đầu tư, ngân hàng, ... đồng thời đảm bảo xử lý các vướng mắc phát sinh trong thời gian vừa qua, đặc biệt trong công tác kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan và đảm bảo tương thích với các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết hoặc thừa nhận.

Để giúp cộng đồng doanh nghiệp nắm bắt những quy định mới, bài viết khái quát những nội dung thay đổi cơ bản về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở quy định tại Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

A. Tóm tắt nội dung chính

1. Luật Quản lý thuế

Nội dung của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 bao gồm 17 chương, 152 điều, trong đó có 122 điều áp dụng chung cho cơ quan hải quan và cơ quan thuế, 27 điều áp dụng riêng cho cơ quan thuế và 3 điều áp dụng riêng cho cơ quan hải quan (Điều 52, 78, 106).

2. Nghị định số 126/2020/NĐ-CP

Nội dung của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP bao gồm 9 chương, 44 điều, trong đó có 31 điều áp dụng chung cho cơ quan hải quan và cơ quan thuế, 10 điều áp dụng riêng cho cơ quan thuế và 3 điều áp dụng riêng cho cơ quan hải quan (Điều 17, 22, 38). Nội dung của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP đã quy định chi tiết 28 điều, khoản, điểm Luật Quản lý thuế giao Chính phủ quy định chi tiết, trừ nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn (quy định tại Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020), xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan (quy định tại Nghị định số 128/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020).

B. Tóm tắt các điểm mới cơ bản liên quan đến quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

1. Những quy định chung

- Về cơ quan quản lý thuế:

Bổ sung Cục Kiểm tra sau thông quan là cơ quan quản lý thuế (điểm b khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý thuế quy định: Cơ quan hải quan bao gồm Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục Hải quan.”).

- Về khái niệm “Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế”:

Sửa đổi theo hướng bổ sung việc nộp đủ số tiền chậm nộp và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (khoản 12 Điều 3 Luật Quản lý thuế quy định: Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế là việc nộp đủ số tiền thuế phải nộp, số tiền chậm nộp, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước.”).

- Về hợp tác quốc tế về thuế:

Bổ sung nội dung cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm thực hiện các biện pháp hỗ trợ thu thuế theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (khoản 4 Điều 12 Luật Quản lý thuế).

2. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế

- Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Kiểm toán nhà nước, Thanh tra nhà nước:

Bổ sung 02 điều mới quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Kiểm toán nhà nước (Điều 21), Thanh tra nhà nước (Điều 22) để quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong công tác quản lý thuế và trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, người nộp thuế trong việc thực hiện các kiến nghị/kết luận của Kiểm toán/Thanh tra nhà nước, theo đó:

Trường hợp Kiểm toán nhà nước, Thanh tra nhà nước trực tiếp kiểm toán, thanh tra người nộp thuế có nội dung kiến nghị/kết luận về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước (NSNN) thì người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện kiến nghị/kết luận của Kiểm toán/Thanh tra nhà nước. Trường hợp người nộp thuế không đồng ý với kiến nghị/kết luận của Kiểm toán/Thanh tra nhà nước thì người nộp thuế có quyền khiếu nại kiến nghị/kết luận của Kiểm toán/Thanh tra nhà nước.

Trường hợp Kiểm toán/Thanh tra nhà nước thực hiện kiểm toán/thanh tra tại cơ quan quản lý thuế có nội dung kiến nghị nêu trong báo cáo kiểm toán/kết luận thanh tra liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế thì cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tổ chức thực hiện kiến nghị của Kiểm toán/Thanh tra nhà nước. Trường hợp người nộp thuế không đồng ý với nghĩa vụ thuế phải nộp thì người nộp thuế có văn bản đề nghị cơ quan quản lý thuế, Kiểm toán/Thanh tra nhà nước xem xét lại nghĩa vụ thuế phải nộp. Căn cứ đề nghị của người nộp thuế, Kiểm toán/Thanh tra nhà nước chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý thuế thực hiện việc xác định chính xác nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

- Nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại:

Điều 27. Nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại, là điều được bổ sung mới, quy định rõ trách nhiệm của ngân hàng thương mại trong việc tham gia phối hợp thu thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN; cung cấp thông tin về số hiệu tài khoản theo mã số thuế của người nộp thuế khi mở tài khoản; khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế; trích tiền từ tài khoản của người nộp thuế để nộp thuế, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết.

Tại Điều 30 Nghị định 126/2020/NĐ-CP đã quy định chi tiết các nội dung tại Điều 27 Luật Quản lý thuế. Trong đó, tại khoản 6 có quy định: Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế, người nộp thuế cầm cố, thế chấp để làm tài sản bảo đảm các khoản vay nhưng ngân hàng thương mại phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ thì ngân hàng thương mại cung cấp thông tin về hàng hóa cầm cố, thế chấp cho cơ quan hải quan để thực hiện ấn định thuế, ngân hàng thương mại có trách nhiệm nộp thuế thay cho người nộp thuế theo quyết định ấn định thuế của cơ quan hải quan.

3. Thủ tục khai thuế, tính thuế

- Trường hợp cơ quan hải quan tính thuế, thông báo thuế:

Khoản 10 Điều 13 Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định 07 trường hợp cơ quan hải quan tính thuế bao gồm: (1) Người nộp thuế bị cơ quan hải quan ấn định thuế; (2) Người nộp thuế chấm dứt hoạt động, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, giải thể, phá sản chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế; (3) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị cơ quan hải quan xác định số tiền thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bị tịch thu để làm căn cứ xử lý theo quy định pháp luật; (4) Hàng hóa nhập khẩu chưa nộp các loại thuế ở khâu nhập khẩu, bị cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế kê biên bán đấu giá, trường hợp hàng hóa phải nộp các loại thuế ở khâu nhập khẩu, cơ quan hải quan tính thuế, thông báo thuế cho cơ quan thu tiền bán đấu giá để nộp tiền thuế; (5) Người nộp thuế bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, số tiền xử phạt tính theo số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế trốn; (6) Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế, người khai thuế cầm cố, thế chấp để làm tài sản bảo đảm các khoản vay, trường hợp tổ chức tín dụng phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ nhưng người khai thuế chưa kê khai tờ khai hải quan mới, chưa nộp đủ thuế theo quy định của pháp luật về hải quan, cơ quan hải quan tính thuế, thông báo cho tổ chức tín dụng số tiền thuế phải nộp; (7) Phí hải quan; lệ phí hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải quá cảnh.

- Về thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế:

Thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế, khai bổ sung hồ sơ khai thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định dẫn chiếu thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan (khoản 6 Điều 44, khoản 3 Điều 45, khoản 5 Điều 47 Luật Quản lý thuế).

Tại điểm b khoản 6 Điều 11 Nghị định 126/2020/NĐ-CP bổ sung quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế: Hồ sơ khai thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nộp tại cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan. Trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kê khai tờ khai hải quan mới thuộc các trường hợp phải nộp thuế ở khâu xuất khẩu, nhập khẩu trên tờ khai hải quan mới thì hồ sơ khai thuế nộp tại cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu lần đầu.

4. Ấn định thuế

Bổ sung thêm 06 trường hợp bị ấn định thuế so với quy định hiện hành (điểm d, e khoản 1 Điều 52 Luật Quản lý thuế; điểm k, l, m, n khoản 4 Điều 17 Nghị định 126/2020/NĐ-CP), bao gồm:

(1) Không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế.

(2) Giao dịch được thực hiện không đúng với bản chất kinh tế, không đúng thực tế phát sinh ảnh hưởng đến số thuế phải nộp.

(3) Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế nhưng người khai thuế tự ý thay đổi mục đích sử dụng hoặc chuyển tiêu thụ nội địa không kê khai, nộp thuế trên tờ khai hải quan mới theo quy định của pháp luật; hàng hóa là nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu hết thời hạn được miễn thuế 05 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất của dự án đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nhưng người khai thuế không kê khai nộp thuế; hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ không đúng quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về hải quan, pháp luật về thương mại.

Đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu chênh lệch âm (ít hơn) hoặc dương (nhiều hơn) so với số liệu đã báo cáo cơ quan hải quan thì bị xử lý như sau:

Trường hợp cơ quan hải quan đã xác định được nguyên nhân dẫn đến chênh lệch thì căn cứ hành vi vi phạm để xử lý và thực hiện ấn định thuế đối với toàn bộ phần chênh lệch (âm và dương).

Trường hợp không xác định được nguyên nhân dẫn đến chênh lệch, không xác định được hành vi vi phạm thì chỉ thực hiện ấn định thuế đối với số lượng nguyên liệu, vật tư chênh lệch âm.

Đối với số lượng nguyên liệu, vật tư chênh lệch dương nhưng số nguyên liệu, vật tư này vẫn được doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích gia công, sản xuất hàng xuất khẩu thì cơ quan hải quan không thực hiện ấn định thuế. Doanh nghiệp phải theo dõi quản lý đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu như đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu lần đầu cho đến khi xuất khẩu hết sản phẩm.

Trường hợp hàng hóa nhập khẩu để gia công của doanh nghiệp trong nước có số lượng nguyên liệu, vật tư chênh lệch dương tại thời điểm đã hết thời hạn thực hiện hợp đồng gia công, bên nhận gia công đã quyết toán hợp đồng gia công với bên đặt gia công thì doanh nghiệp phải tái xuất hoặc kê khai, nộp thuế đối với phần nguyên liệu, vật tư chênh lệch dương, trừ trường hợp chuyển nguyên liệu, vật tư chênh lệch dương để thực hiện hợp đồng gia công khác. Trường hợp không kê khai, nộp thuế đối với phần nguyên liệu, vật tư chênh lệch dương thì cơ quan hải quan thực hiện ấn định thuế.

(4) Hàng hóa nhập khẩu chưa hoàn thành thủ tục hải quan bị kê biên để bán đấu giá theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Tòa án thuộc đối tượng phải nộp thuế, cơ quan hải quan ấn định thuế để xác định số tiền thuế phải nộp và thông báo cho cơ quan, tổ chức thu tiền bán đấu giá để nộp thuế, trừ hàng hóa nhập khẩu bị tịch thu để bán đấu giá thuộc sở hữu Nhà nước.

(5) Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế, người khai thuế cầm cố, thế chấp để làm tài sản bảo đảm các khoản vay, trường hợp tổ chức tín dụng phải xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ nhưng người khai thuế chưa kê khai tờ khai hải quan mới, nộp đủ thuế theo quy định của pháp luật về hải quan.

(6) Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong các trường hợp khác do cơ quan hải quan hoặc cơ quan thanh tra, kiểm toán thực hiện thanh tra, kiểm toán tại trụ sở người khai thuế, tại cơ quan hải quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 21, điểm b khoản 2 Điều 22 Luật Quản lý thuế phát hiện người khai thuế không kê khai hoặc kê khai, tính thuế hoặc xác định số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế hoặc xác định không thuộc đối tượng chịu thuế không đúng quy định của pháp luật.

5. Nộp thuế

- Về thời hạn nộp thuế:

Bổ sung quy định về thời hạn nộp thuế sau khi thông quan hoặc giải phóng hàng hóa (khoản 4 Điều 55 Luật Quản lý thuế). Theo đó, thời hạn nộp thuế khai bổ sung, nộp số tiền thuế ấn định được áp dụng theo thời hạn nộp thuế của tờ khai hải quan ban đầu; thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa phải phân tích, giám định để xác định chính xác số tiền thuế phải nộp; hàng hóa chưa có giá chính thức tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan; hàng hóa có khoản thực thanh toán, hàng hóa có các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan chưa xác định được tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính (trong thời gian Bộ Tài chính chưa ban hành Thông tư hướng dẫn thì thực hiện theo quy định hiện hành tại Thông tư 38/2015/TT-BTC và Thông tư 39/2018/TT-BTC).

Nghị định 126/2020/NĐ-CP bổ sung quy định về thời hạn nộp tiền thuế ấn định đối với một số trường hợp có tính đặc thù (khoản 6 Điều 17), cụ thể:

+ Thời hạn nộp tiền thuế ấn định là ngày ký ban hành quyết định ấn định thuế được áp dụng đối với 04 trường hợp: (1) Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bị ấn định thuế nhưng người khai thuế không kê khai trên tờ khai hải quan hoặc có kê khai nhưng tờ khai hải quan bị hủy theo quy định; (2) Hàng hóa nhập khẩu đã qua gia công, sản xuất không còn nguyên trạng như khi nhập khẩu ban đầu; (3) Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế được cầm cố, thế chấp làm tài sản đảm bảo các khoản vay do người khai thuế không có khả năng trả nợ bị tổ chức tín dụng xử lý theo quy định của pháp luật; (4) Hàng hóa nhập khẩu bị kê biên để bán đấu giá theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án thuộc các trường hợp phải nộp thuế. (điểm b khoản 6 Điều 17)

+ Trường hợp ấn định thuế đối với hàng hóa thuộc nhiều tờ khai hải quan khác nhau nhưng vẫn còn nguyên trạng khi nhập khẩu, cơ quan hải quan không xác định được chính xác số lượng hàng hóa theo từng tờ khai thì tờ khai để áp dụng thời hạn nộp tiền thuế ấn định là tờ khai nhập khẩu cuối cùng có mặt hàng bị ấn định thuế. Trường hợp tờ khai nhập khẩu cuối cùng có số lượng hàng hóa nhỏ hơn số lượng hàng hóa bị ấn định thuế thì số lượng hàng hóa bị ấn định thuế chênh lệch được tính theo thời hạn nộp thuế của tờ khai liền kề trước đó theo cùng loại hình nhập khẩu có cùng mặt hàng bị ấn định thuế. (điểm c khoản 6 Điều 17)

- Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt:

Điều 57 Luật Quản lý thuế sửa đổi quy định về thứ tự thanh toán theo nguyên tắc nộp theo thời hạn trước, sau và theo thứ tự khoản nợ thuộc diện cưỡng chế - khoản nợ chưa thuộc diện cưỡng chế - khoản phải nộp phát sinh.

- Về xử lý chậm nộp thuế:

Bổ sung quy định về các trường hợp phải nộp tiền chậm nộp (gồm 04 trường hợp quy định tại điểm c, d, đ, e khoản 1 Điều 59 Luật Quản lý thuế); các trường hợp không tính tiền chậm nộp (khoản 5 Điều 59); chưa tính tiền chậm nộp đối với các trường hợp được khoanh nợ (khoản 6 Điều 59); điều chỉnh giảm số tiền chậm nộp đã tính tương ứng với số tiền chênh lệch giảm (khoản 7 Điều 59); miễn tiền chậm nộp trong trường hợp bất khả kháng (khoản 8 Điều 59).

- Xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa:

Bổ sung quy định không tính tiền chậm nộp trong khoảng thời gian từ ngày phát sinh khoản nộp thừa đến ngày cơ quan quản lý thuế thực hiện bù trừ (khoản 1 Điều 60 Luật Quản lý thuế); không hoàn trả số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa và cơ quan quản lý thuế thực hiện thanh khoản số tiền nộp thừa trên sổ kế toán, trên hệ thống dữ liệu điện tử (gồm 03 trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Quản lý thuế: (1) Người nộp thuế từ chối nhận lại số tiền nộp thừa bằng văn bản; (2) Người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế, đã được cơ quan quản lý thuế thông báo về số tiền nộp thừa trên phương tiện thông tin đại chúng mà sau 01 năm kể từ ngày thông báo, người nộp thuế không có phản hồi bằng văn bản yêu cầu hoàn trả tiền nộp thừa với cơ quan quản lý thuế; (3) Khoản nộp thừa quá thời hạn mười (10) năm); cơ quan quản lý thuế thực hiện bù trừ tiền nộp thừa với số tiền còn nợ đối với trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh (khoản 4 Điều 60 Luật Quản lý thuế).

- Về nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, khởi kiện:

Bổ sung quy định người nộp thuế có quyền yêu cầu cơ quan quản lý thuế trả tiền lãi theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa. Nguồn tiền trả lãi được chi trả từ ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước (khoản 2 Điều 61 Luật Quản lý thuế). Lưu ý quy định này không áp dụng đối với số tiền thuế người nộp thuế tự khai, tự nộp.

6. Trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế

- Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh:

Bổ sung quy định tạm hoãn xuất cảnh đối với trường hợp người nộp thuế thuộc trường hợp đang bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế (khoản 1 Điều 66 Luật Quản lý thuế).

Điều 21 Nghị định 126/2020/NĐ-CP đã quy định các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh khi chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong việc phối hợp thực hiện tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế giữa cơ quan quản lý thuế và cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.

- Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động:

Bổ sung quy định đối tượng chịu trách nhiệm nộp tiền thuế nợ theo quy định đối với mỗi loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế (khoản 3 Điều 67 Luật Quản lý thuế); quy định người nộp thuế có trách nhiệm kế thừa các khoản nợ của chi nhánh, đơn vị phụ thuộc khi chi nhánh, đơn vị phụ thuộc chấm dứt hoạt động mà vẫn còn nợ thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN (khoản 5 Điều 67 Luật Quản lý thuế).

7. Thủ tục hoàn thuế

- Về phân loại hồ sơ hoàn thuế:

Hồ sơ hoàn thuế được phân loại thành hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế và hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, trong đó hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế gồm 06 trường hợp, có bổ sung 01 trường hợp (điểm d khoản 2 Điều 73 Luật Quản lý thuế: Hồ sơ hoàn thuế thuộc loại rủi ro về thuế cao theo phân loại quản lý rủi ro trong quản lý thuế).

Khoản 2 Điều 22 Nghị định 126/2020/NĐ-CP bổ sung 05 trường hợp thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế (điểm a, b, c, d, đ) trên cơ sở kế thừa quy định tại khoản 4 Điều 129 Thông tư 38/2015/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 63 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC.

- Về nơi tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế:

Bổ sung quy định “Cơ quan hải quan nơi quản lý khoản thu tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế đối với các trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế; trường hợp người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài xuất cảnh có hàng hóa thuộc trường hợp hoàn thuế thì cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất cảnh tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế.” (điểm b khoản 1 Điều 72 Luật Quản lý thuế).

- Về địa điểm kiểm tra hồ sơ hoàn thuế:

          Luật Quản lý thuế bổ sung một Điều mới quy định về địa điểm kiểm tra hồ sơ hoàn thuế (Điều 74). Theo đó, hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước được thực hiện kiểm tra tại trụ sở của cơ quan quản lý thuế, hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế được thực hiện kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế hoặc trụ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

- Về thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế:

Bổ sung quy định cụ thể mức trả tiền lãi 0,03%/ngày tính trên số tiền phải hoàn trả và số ngày chậm hoàn trả, trong trường hợp chậm ban hành quyết định hoàn thuế do lỗi của cơ quan quản lý thuế. Nguồn tiền trả lãi được chi trả từ ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước (khoản 3 Điều 75 Luật Quản lý thuế).

- Về thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế:

Sửa đổi quy định theo hướng rút ngắn thời gian cơ quan quản lý thuế thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước theo nguyên tắc rủi ro và chậm nhất trong năm (05) năm kể từ ngày ban hành quyết định hoàn thuế (trước đây quy định 10 năm).

8. Kiểm tra thuế

- Bổ sung 03 trường hợp kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế (điểm a, c, e khoản 1 Điều 110 Luật Quản lý thuế), gồm: (1) Trường hợp hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế; kiểm tra sau hoàn thuế đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước; (2) Trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở của người khai hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; (3) Trường hợp theo kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, Thanh tra nhà nước, cơ quan khác có thẩm quyền.

- Sửa đổi quy định về thời hạn kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế (điểm c khoản 4 Điều 110 Luật Quản lý thuế): không quá 10 ngày làm việc tại trụ sở của người nộp thuế (luật cũ quy định 5 ngày làm việc, trường hợp kiểm tra theo kế hoạch đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là 15 ngày). Trường hợp phạm vi kiểm tra lớn, nội dung phức tạp thì người đã quyết định kiểm tra có thể gia hạn 01 lần nhưng không quá 10 ngày làm việc tại trụ sở của người nộp thuế (luật cũ quy định 5 ngày làm việc, trường hợp kiểm tra theo kế hoạch đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là 15 ngày).

- Bổ sung quy định mới (khoản 5 Điều 110 Luật Quản lý thuế): trường hợp kiểm tra sau thông quan thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan.

9. Quản lý nợ

- Về khoanh tiền thuế nợ:

Bổ sung quy định các trường hợp được khoanh tiền thuế nợ (Điều 83 Luật Quản lý thuế). Theo đó, người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; người nộp thuế có quyết định giải thể; người nộp thuế đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ kinh doanh; người nộp thuế đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động được khoanh nợ thuế.

Thẩm quyền khoanh nợ: Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế quyết định việc khoanh nợ (khoản 2 Điều 84 Luật Quản lý thuế).

- Xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt :

Bổ sung quy định xóa nợ đối với các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định và các khoản nợ này đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế. Tuy nhiên, sau khi đã được xóa nợ nếu người nộp thuế quay lại sản xuất, kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thì phải hoàn trả cho Nhà nước khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã được xóa (khoản 3 Điều 85 Luật Quản lý thuế); xóa nợ do ảnh hưởng thiên tai, thảm họa, dịch bệnh (khoản 4 Điều 85 Luật Quản lý thuế).

- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế:

Sửa đổi nguyên tắc cưỡng chế theo hướng quy định linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, cụ thể: đối với các biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế, khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập, dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao cơ quan quản lý thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp; các biện pháp cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn, kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên, thu tiền, tài sản khác do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thực hiện theo nguyên tắc trường hợp không áp dụng được biện pháp cưỡng chế trước thì cơ quan quản lý thuế chuyển sang áp dụng biện pháp cưỡng chế sau. Trường hợp quyết định cưỡng chế đối với một số biện pháp chưa hết hiệu lực nhưng không có hiệu quả mà cơ quan quản lý thuế có đủ thông tin, điều kiện thì thực hiện áp dụng biện pháp cưỡng chế trước đó hoặc biện pháp cưỡng chế tiếp theo (khoản 3 Điều 125 Luật Quản lý thuế). Đồng thời bổ sung quy định về trường hợp chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế (trong thời gian được khoanh nợ, được nộp dần tiền thuế nợ nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế, trường hợp không tính tiền chậm nộp thuế), trường hợp không thực hiện biện pháp cưỡng chế (nợ phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện quá cảnh) (khoản 5, khoản 6 Điều 124 Luật Quản lý thuế).



BÌNH LUẬN:



Các tin khác

HỆ THỐNG BIỂU THUẾ NHẬP KHẨU ƯU ĐÃI ĐẶC BIỆT ĐỂ THỰC HIỆN CÁC FTA GIAI ĐOẠN 2018 - 2023
Hải quan Đà Nẵng thăm, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng nhân dịp Xuân Tân Sửu 2021
Hướng dẫn việc khai bổ sung sau thông quan đối với hàng hóa gửi nhầm
10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG NĂM 2020
Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2020 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2021
Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2020 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2021
Hải quan Đà Nẵng cùng Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh dẫn đầu bảng xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính khối Cục Hải quan tỉnh, thành phố
Hải quan Đà Nẵng - vượt chỉ tiêu thu ngân sách năm 2020
Hải quan Đà Nẵng: Thành tích xuất sắc trong chặng đường 10 năm cải cách
Hải quan Đà Nẵng: Nhiều kênh hỗ trợ doanh nghiệp thời dịch Covid-19
Hải quan sân bay Đà Nẵng: Tập huấn nâng cao kỹ năng kiểm tra xuất xứ hàng hóa
Tập huấn giới thiệu Luật quản lý thuế 2019 và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP cho công chức Hải quan Đà Nẵng và doanh nghiệp
Hải quan Đà Nẵng tổ chức tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS
Hải quan Đà Nẵng tổ chức tập huấn Nghị định 128/2020/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực hải quan
Thông báo Thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan thuộc cấp Cục và Chi cục
12345678910...

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
Cục Hải Quan Thành phố Đà Nẵng
Trưởng ban biên tập: Quách Đăng Hòa, Cục trưởng
Điện thoại: +84 (236) 3 827 639 - Fax: +84 (236) 3 823 328
Địa chỉ: 65 -67 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Quận Hải Châu, Thành Phố Đà Nẵng
Email: hqdanang@customs.gov.vn